Thứ Tư, 30 tháng 9, 2009

GIỚI THIỆU BLOG LỚP B ANH VĂN


Mời các bạn nhấn vaò chữ baì đăng mới để nhập dữ liệu text, bấm vaò ô vuông maù xanh phiá trên bên phaỉ để đưa hình ảnh vaò, bấm vaò hình chữ nhật như hình thước phin để nhập phim video clip, ...và nhớ đặt tiêu đề sau khi xong nhấp và xuất bản baì đăng và bấm vaò xem blog là xong tác phẩm cuả mình. Chúc các ban thành côngI was born and raised in CUCHI. When I was young I have studied in elementary school Benco, I used to play volleyball, guitar, swimming ... I've ever played volleyball masterly

Câu 1:MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIƯÃ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN

Vấn đề quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác. Tầm quan trọng đó không chỉ ở chỗ: "Quan điểm về đời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức". Kinh nghiệm đấu tranh, bảo vệ và xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho chúng ta bài học vô giá là: "Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của đảng". Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là cần thiết.
Để giải quyết vấn đề nêu trên, theo tôi trước hết cần phải xác định rõ khái niệm thực tiễn với khái niệm lý luận. Trong các tài liệu khoa học, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thực tiễn, nhưng có thể nói, chưa có một ý kiến thống nhất về vấn đề này. Tính đến các quan điểm khác nhau, chúng tôi xin trình bày vắn tắt quan điểm của chúng tôi về khái niệm lý luận và thực tiễn như sau.
Theo tôi thì lý luận và thực tiễn nó giống như xây 1 ngôi nhà vậy. Lý luận là phần thiết kế. Còn, thực tiễn là việc thi công.(còn các bạn thì sao! xin ý kiến nhận xét)
Một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.
Hồ Chí Minh dùng nhiều cách diễn đạt khác nhau: "Lý luận đi đôi với thực tiễn", "Lý luận kết hợp với thực hành", "Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”, "Lý luận phải liên hệ với thực tế (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Dù nói "đi đôi", "gắn liền", "kết hợp” nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh là: "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc phục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hoa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên "chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Những cán bộ ấy quên rằng, "kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234). Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận "như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234 - 235). "Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 47). Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiên mới nảy sinh. Do đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người khẳng định, "Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để hắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 235). Như vậy cũng có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy. "Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5 tr. 234). Do đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫn đắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải phù hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh phải được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn luôn hòa quyện, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.
Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau nhằm giúp cán bộ, đảng và quần chúng nhân dân dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng về việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt động cách mạng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Trong khoảng 10 năm từ 1955 - 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học... Như vậy, mỗi năm có tới hơn 70 lần xuống cơ sở, gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này thì một mặt, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế. Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, "lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Điều quan trọng nữa theo Người là phải thống giáo điều ngay trong học tập chủ nghĩa Lênin. Khi còn sống Người luôn phê phán kiểu học học thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, "học sách vở Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9 tr. 292). Đó là học theo kiểu "mượn những lời của Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Theo Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là "phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 497). "Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên "học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498). Như vậy, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng không phải vì học tập thuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc cả với tổ chức. Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Cho nên người cán bộ, đảng viên phải có thái độ học tập đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, không nên coi chủ nghĩa Mác - Lênin là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Có như vậy thì việc nghiên cứu, học tập vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin mới có hiệu quả. Cùng với việc chống giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác - Lênin thì còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Để chống cả hai loại giáo điều này, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực tiễn nước nhà. Người cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin. "Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại, (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Đồng thời, Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác. "… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 243). Người còn nhấn mạnh " ...cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 417). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được "bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh. "Làm như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498).
Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có ý nghĩa hết sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề thực tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những vấn đề đó chúng ta phải tìm ở cả trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn đổi mới hiện nay ở nước ta. Nghĩa là phải bằng phương pháp, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết những vấn đề thực tiễn hôm nay một cách có lý luận.
Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

DEL POTRO VÔ ĐỊCH CÚP USOPEN 2009 GRAND SLAM

FEDERER BÓ TAY TRƯỚC DEL-POTRO ĐÀNH NHẬN CHIẾC ĐĨA BẠC

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009

Đồng bào cả nước đón mừng Tết độc lập dân tộc

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn Đảng, Chính phủ và quốc dân đồng bào trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc Mít tinh trước hàng chục vạn quần chúng tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Sau hàng nghìn năm tồn tại dưới chế độ phong kiến hà khắc, hàng trăm năm chuyên chế đô hộ của thực dân đế quốc, sau bao cuộc chiến tranh đổ máu, dân tộc Việt Nam mới có ngày Tết độc lập. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã vào lịch sử như một mốc son chọi lọi, trở thành một ngày lịch sử đặc biệt ý nghĩa và thiêng thiêng của dân tộc. Ngày đó đã trở thành Ngày Tết độc lập của toàn thể dân tộc Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước. Quảng trường Ba Đình lịch sử trở thành địa chỉ văn hoá lịch sử cách mạng tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội, của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Đối với dân tộc Việt Nam, sau Tết cổ truyền dân tộc thì Tết Độc lập được coi là ngày Tết thứ 2 của đất nước, của dân tộc. 64 năm qua, Ngày Tết độc lập luôn được duy trì, trở thành nét đẹp văn hoá chính trị của dân tộc Việt Nam. Những ngày này, khi đất nước vào thu thì không khí đón mừng Tết Độc lập trên khắp miền đất nước thật tưng bừng, náo nức. Trên khắp các nẻo đường từ xã, bản, thôn, sóc đến các trung tâm thị trấn, thị xã, thành phố nơi đâu cũng rực rỡ cờ, hoa, khẩu hiệu, panô áp phich, cổng trào để cổ động tuyên truyền. Trở thành một hoạt động thường niên đối với gia đình là trang hoàng nhà cửa thêm phần sạch sẽ, treo cờ Tổ quốc, treo ảnh Bác Hồ; mỗi bữa cơm gia đình cũng thêm phần tương tất hơn, đầm ấm hơn.

Đặc biệt, trên các vùng miền đất nước đã đồng loạt tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ thể dục thể thao, Lễ mit tinh để thiết thực Kỷ niệm ngày Tết đốc lập. Vui nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số; họ mặc những bộ quần áo truyền thống đẹp nhất, tổ chức các Lễ hội truyền thống như tô thắm thêm sắc màu của núi rừng hùng vĩ. Nhiều đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên đã tổ chức đón Tết Độc lập linh đình hơn Tết Cổ truyền, bởi theo quan niệm của đồng bào, Tết Độc lập là đem lại tự do, hoà bình, cuộc sống yên.

Thủ đô Hà Nội sẽ cờ hoa sắc màu, tấp nập hơn, đông vui hơn đón đồng bào, nhân dân, khách nước ngoài đến thăm quan, về viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi 64 năm trước đã diễn sự kiện đặc biệt này. Các công viên, khu vui chơi giải trí nhộn nhịp hơn thường ngày. Với nhu cầu và đời sống được nâng cao, nhân dân cả nước có điều kiện tham gia vào các hoạt động Kỷ niệm Ngày Tết độc lập và đi thăm viếng, đi du lịch, giải trí, cũng là thể hiện tấm lòng đối với đất nước, dân tộc, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và kính yêu.
Kiều bào đang sinh sống, công tác, học tập tại nước ngoài cũng sẽ tổ chức các hoạt động thiết thực để nhớ về quê hương đất nước với lòng tự hào và lòng biết ơn sâu sắc nhất.

Tháng 9 mùa Thu năm 2009 là thật đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Kỷ niệm 40 năm thực hiện di chúc của Bác Hồ kính yêu; Kỷ niệm 64 năm tiếng vọng lịch sử của Bản tuyên ngôn độc lập. Bốn mươi năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức sáng ngời và Di chúc thiêng liêng của Người đã dẫn dắt, soi đường toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua khó khăn, thử thách, tiến lên giành thắng lời vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cả cuộc đời, Bác một lòng vì dân vì nước, không gợn chút riêng tư; là tấm gương ngời sáng về tinh thần thi đua yêu nước, về đạo đức cách mạng chân chính. Cả cuộc đời bôn ba đi tìm đường cứu nước, tìm ra chân lý cách mạng mà tiêu biểu nhất là kết tinh thăng hoa trong Bản tuyên ngôn độc lập mùng 2 tháng 9 năm 1945.

Mỗi người dân Việt đều tự hào về Ngày Tết độc lập dân tộc. Được chứng kiến, được sống, được lao động, học tập, công tác của một đất nước hoà bình độc lập. Điều quan trọng nhất là tinh thần thi đua để bảo vệ nền độc lập, tự do và phát triển toàn diện./.

Năm học 2008 - 2009, diễn ra trong bối cảnh có nhiều sự kiện ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II. Việc hợp nhất Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Học viện Hành chính quốc gia đã tác động đến hệ thống Học viện, gây ra những khó khăn nhất định, nhưng đồng thời cũng đem lại nhiều thời cơ mới, quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Học viện.

Sample Image Năm học 2008 - 2009, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác tổ chức - cán bộ trong điều kiện hiện nay, từ đó xác định lấy năm học 2008 - 2009 là năm đẩy mạnh công tác cán bộ; Với quyết tâm cao của lãnh đạo, cùng với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II đã phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Thường xuyên kiện toàn bộ máy theo hướng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong năm học qua, Học viện đã thành lập mới 2 đơn vị trực thuộc Văn phòng là Đội xe và Tổ Xây dựng cơ bản. Bộ máy Học viện hiện có 14 Khoa, 03 Ban, 01 Văn phòng, 01 Trung tâm, 01 Tạp chí, 04 Phòng trực thuộc Giám đốc, 07 đơn vị trực thuộc Văn phòng. Các đơn vị hoạt động đúng chức năng và thực hiện nhiệm vụ năm học theo chương trình hành động của từng đơn vị được xây dựng từ đầu năm học. Tổng số lớp trong năm 2008 - 2009 có 56 lớp với 5098 học viên, trong đó: 28 lớp với 2894 học viên từ năm học 2007 - 2008 chuyển sang; Khai giảng mới 28 lớp với 2177 học viên; Số lớp ra trường 30 lớp với 2540 học viên; Chuyển sang năm 2009 - 2010: 26 lớp với 2558 học viên; Phối hợp với các địa phương mở 02 lớp công tác tổ chức với 250 học viên; 01 lớp cán bộ làm công tác kiểm tra với 271 học viên. Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ luôn được thường xuyên quan tâm, thực hiện kế hoạch quy hoạch giới thiệu nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý đảm bảo công khai, dân chủ, đúng quy trình. Sample Image



Việc đổi mới phương pháp đào tạo với việc sử dụng phương pháp dạy - học theo hướng phát huy tính tích cực của người học đã được triển khai mạnh mẽ trong thời gian qua, tạo ra được phong trào tích cực học tập ở học viên. Học viện đã tổ chức tốt các phong trào thi đua trong hoạt động giảng dạy và học tập như: Đợt thi giảng với qui mô và phương thức có nhiều đổi mới, bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức cũng như hành động trong đội ngũ giảng viên, phong trào thi đua học tập và rèn luyện trong học viên được các lớp tham gia tích cực.


Với việc thực hiện chương trình hành động “Nói không với tiêu cực trong thi cử”, với chủ trương “học thật, thi thật” đã đạt được kết quả bước đầu và đang phát triển theo chiều hướng tích cực, từng bước xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện; tình trạng tiêu cực trong thi cử đã giảm nhiều, bệnh thành tích trong học tập đã được ngăn ngừa và khắc phục một cách đáng kể. Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng chặt chẽ hơn. Từ đầu năm học, các đơn vị đã xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học, từ đó hình thành kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học toàn Học viện. Năm học vừa qua, Học viện đã nghiệm thu được 02 đề tài cấp Bộ, 06 đề tài đang triển khai thực hiện. Hiện nay, đang tiến hành làm hồ sơ đấu thầu 04 đề tài cấp Bộ, 01 đề tài cấp Nhà nước; Nghiệm thu 19 đề tài cấp cơ sở, 17 đề tài đang triển khai thực hiện. Trong kế hoạch năm 2009 các đơn vị đã đăng ký 30 đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, chọn 20 đề tài đăng ký ở Học viện Trung tâm. Tổ chức 07 cuộc Hội thảo cấp cơ sở, trong đó có 02 cuộc Hội thảo cấp Học viện Khu vực, 05 cuộc Hội thảo chuyên ngành của các khoa. Các cuộc Hội thảo ngày càng có chất lượng, góp phần nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên và dần mở rộng ảnh hưởng tới các địa phương phía Nam. Xuất bản 01 đầu sách tài liệu tham khảo với số lượng 2000 cuốn. Tái bản 13 đầu sách với số lượng 22.000 cuốn. Tạp chí Khoa học Chính trị đã phát hành 12.200 cuốn, trung bình 2000 cuốn/kỳ. Bổ sung được 460 đầu sách với 2057 bản (cuốn) sách các loại, phục vụ được 2054 lượt bạn đọc (trong đó cho mượn 942 tên sách các loại, có cả đề cương, giáo trình các loại). Bên cạnh đó, Học viên rất coi trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nghiên cứu khoa học và đào tạo. Hoạt động công nghệ thông tin luôn được duy trì, bước đầu đáp ứng được yêu cầu cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý, từng bước tạo môi trường làm việc trên mạng. Hoạt động hợp tác quốc tế được mở rộng đối tác cũng như ký kết các văn bản hợp tác. Năm học 2008 - 2009, Học viện đã tổ chức 02 Đoàn ra nước ngoài dự Hội thảo khoa học và nghiên cứu thực tế; Đón tiếp 02 Đoàn khách Trung Quốc (Đoàn cán bộ của Học viện Hành chính Thượng Hải và Trường Đảng Bắc Kinh). Mặt khác, Học viện luôn chú trọng đến việc trang thiết bị, bảo trì, sửa chữa và xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Công tác vệ sinh môi trường luôn được đảm bảo, công tác y tế luôn hoàn thành tốt chuyên môn phục vụ cán bộ, công nhân viên và học viên với tinh thần trách nhiệm cao. Công tác tài chính luôn luôn được kiểm tra, không thiếu hụt, thất thoát.



Công tác thi đua luôn được chú trọng, với chủ trương đưa công tác thi đua trở thành công cụ quản lý, Ban Giám đốc chỉ đạo bằng các biện pháp cụ thể, đến nay công tác này dần đi vào thực chất và có nhiều tiến bộ. Đầu năm học 2008 - 2009, Học viện đã ban hành quy định cụ thể về tiêu chuẩn thi đua, thường xuyên theo dõi ghi nhận tình hình các mặt hoạt động của từng cá nhân, từng đơn vị trong toàn Học viện để có cơ sở đánh giá chính xác kết quả thi đua. Kết quả bình xét thi đua năm học 2008 - 2009 có 186 cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến”, đạt tỷ lệ 70%; 21 đơn vị đạt danh hiệu “Tập thể Lao động tiên tiến”, đạt tỷ lệ 72%.


Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong năm học 2008 - 2009, căn cứ tình hình thực tế của Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II và bối cảnh chung của hệ thống Học viện, năm học 2009 - 2010, Học viện tiếp tục tập trung kiện toàn bộ máy theo chủ trương của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và kết luận của Ban Bí thư; Đẩy nhanh tiến độ xây dựng chiến lược cán bộ đến năm 2020; Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ. Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo chiều sâu, kiên quyết thực hiện chương trình hành động “Nói không với tiêu cực trong thi cử”, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh; Hoàn thành tốt kế hoạch đào tạo theo chỉ tiêu phân bổ của Ban Tổ chức Trung ương. Thực hiện chương trình đào tạo Cao cấp lý luận chính trị - hành chính theo Quyết định 1190/QĐ-HVCT-HCQG ngày 16/5/2008 của Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Nâng cao chất lượng đi nghiên cứu thực tế của các lớp tập trung; Thực hiện tin học hoá các khâu trong quản lý đào tạo. Đẩy nhanh tiến độ triển khai, thực hiện chiến lược nghiên cứu khoa học của Học viện. Cân đối cơ cấu và bổ sung các loại sách, tài liệu đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập; Thực hành tiết kiệm trong mua tài liệu; Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, thực hiện các chế độ tự chủ tự chịu trách nhiệm. Tiếp tục thực hiện chương trình hành động “Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tham nhũng”; Đảm bảo công tác hạch toán kế toán, sổ sách chứng từ đúng Luật Ngân sách; Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình sửa chữa, xây dựng cơ bản. Nâng cao chất lượng bài viết Tạp chí Khoa học chính trị; Tiếp tục hoàn thiện và đổi mới công tác thi đua; Chủ động mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra...
Nhìn chung năm học 2008 - 2009, các hoạt động của Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II đã đi vào nền nếp, có chuyển biến tích cực góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, tạo tiền đề thuận lợi cho năm học 2009 - 2010.

LỚP C30